ĐO VÀ KIỂM TRA ĐẶC TRƯNG IN

20/11/2021
Tin tức

Các loại thang kiểm tra

Việc đo các đặc tính của các đặc trưng in không những quan trọng trong việc cung cấp các quy cách trong các giai đoạn sản xuất in mà còn giúp kiểm soát kết quả in thật đúng như tờ in thử. Các thông số kiểm tra được xác định thông qua các phần tử kiểm tra được gắn kèm hình ảnh in.

Các dải kiểm tra in

Các dải kiểm tra in thường có các phần tử như bảng dưới đây

 

Thuộc tính

Phần tử kiểm tra

Cách kiểm tra

Màu của mực

in và độ dày lớp

mực

Ô tông nguyên

Quan sát, máy đo

màu, máy đo phổ

màu, máy đo mật độ

Sự truyền tông

(Làm bản in)

Thang kiểm tra các bước liên tục

Các đường cực mãnh

Hạt tram phần sáng và phần tối

Các ô kiểm tra hình sao

Quan sát

Kính lúp

Kính lúp

Quan sát

Sự truyền tông

(In)

Các ô kiểm tra hình sao

Phần tử có kích thước biến đổi

Các vùng tram mịn hay thô

Các ô tầng thứ

Quan sát

Kính lúp

Quan sát máy đo

Máy đo mật độ

 

Sự truyền tông

(Kéo dịch hay

đúp nét)

Các ô kiểm tra hình sao

Các vòng tròn đồng tâm

Các đường mảnh

Quan sát

Quan sát

Quan sát hay máy đo

 

Sự truyền mực

Các ô tông nguyên in chồng lên nhau

Quan sát hay máy đo mật độ

Cân bằng xám

Các ô trung tính in chồng 3 màu

Quan sát, máy đo màu, máy đo phổ màu, máy đo mật độ

Chồng màu chính xác

Các dấu canh point chồng màu, các vòng tròn đồng tâm

Kính lúp

 

Vị trí của các thang kiểm tra trên tờ in

Một trong những điều cần cân nhắc khi sử dụng các thang hay dải kiểm tra in chính là vị trí của nó trên tờ in. Theo nguyên tắc chung, nó phải được đặt tại vị trí nào mà có thể biểu thị tốt nhất tình trạng của toàn bộ tờ in và sau đó nó phải được cắt hay dấu đi trong quá trình thành phẩm. Trên máy in offset tờ rời, vị trí thuận tiện nhất để đặt thang kiểm tra cạnh đuôi của tờ in, tuy nhiên tại vị trí này giấy thường bị biến dạng nên ta nên đặt các thang kiểm tra tại tâm hay nửa phía trên của tờ in. Trên máy in, cuộn mực in gần như chà liên tục lên bản in vì khoảng hở trên ống bản gần như không đáng kể, vì vậy vị trí đặt tờ in không quan

trọng như in tờ rời, người ta có thể đặt ở những nơi thuận tiện để khi thành phẩm nó sẽ bị cắt đi, tránh đặt thang kiểm tra tại những vị trí mà bản in bị đục lỗ định vị.

Nên dùng thang kiểm tra nào?

Việc dùng thang kiểm tra nào tùy thuộc vào những thuộc tính in nào mà ta muốn kiểm tra và  hương tiện kiểm tra là gì? Nếu ta không có sẵn những thiết bị kiểm tra như máy đo mật độ hay máy đo màu thì ta phải dùng những thang kiểm tra nào có thể giúp ta kiểm tra các thuộc tính in bằng cách quan sát qua kính lúp. Nếu không có máy đo màu mà chỉ có máy đo mật độ thì phải tìm cách bố trí thang đo sao cho qua mật độ các màu ta có thể kiểm tra được màu. Việc bố trí thang kiểm tra phải tuân thủ các qui cách chuẩn của các nhà sản xuất máy in nếu như trên máy in đó có các thiết bị đo kiểm tra tự động.

 

Các phần tử kiểm tra màu mực và độ dày lớp mực

Việc đo mật độ tông nguyên là một phương thức hiệu quả để theo dõi và kiểm soát độ dày lớp mực. Nếu chỉ để kiểm tra mật độ tông nguyên ta có thể chỉ bố trí các ô tông nguyên cho các màu cũng như các ô tông nguyên tạo ra do các màu chồng lên nhau, việc tạo ra các ô kiểm tra tông nguyên hết sức đơn giản. Tuy nhiên trong in offset, chúng ta phải đối mặt với

các khó khăn gây ra do việc kiểm soát cá vùng phủ mực nằm theo chiều ngang của bản in. Theo lý thuyết, ta phải bố trí một thang đo trải dài từ đầu này đến đầu kia theo chiều ngang của tờ in nhưng trên thực tế điều này không thể thực hiện được vì nếu chiều cao của một ô kiểm tra là 1 cm thì ta phải dùng đến 4 cm giấy (4 màu) để chứa các thang kiểm tra trong khi còn nhiều ô kiểm tra các cũng cần được in.

Tất cả các thang kiểm tra hiện nay gồm có một số ô tông nguyên cho mỗi màu và chúng được bố trí theo từng khoảng lập đi lập lại dọc theo chiều dài của thang kiểm tra. Nếu thang kiểm tra chỉ dùng cho một loại máy in cụ thể nào đó thì chiều dài của thang kiểm tra sẽ bằng độ rộng của vùng phủ mực. Theo quan điểm kiểm soát việc cấp mực, càng có nhiều ô kiểm

tra tông nguyên lập đi lập lại thì càng tốt, tuy nhiên càng có nhiều ô kiểm tra tông nguyên thì càng có ít các ô kiểm tra khác được đặt vào tờ in.

Trong trường hợp ta không có thiết bị đo, việc kiểm tra độ dày lớp mực bằng cách quan sát có thể thực hiện được bằng cách dùng các đường có độ dày thay đổi kết hợp với các sọc trắng mảnh như hình dưới đây.

 

Các phần tử kiểm tra sự truyền mực

Để kiểm tra sự truyền mực ta dùng các ô màu tông nguyên có chứa các màu in chồng lên nhau, Cyan chồng lên Vàng, Cyan chồng lên Magenta và Magenta chồng lên Vàng. Ta có thể kiểm tra sự truyền mực bằng cách quan sát bằng mắt thường hay dùng máy đo mật độ hoặc máy đo phổ.

Yêu cầu đối với thang đo kiểm tra sự truyền mực là nó phải thật thẳng, ô chứa hai màu in chồng lên nhau phải nằm kế bên các ô màu tông nguyên của từng màu riêng biệt để tiện cho việc quan sát. Các giá trị đo sự truyền mực dọc theo chiều rộng hay chiều ngang của tờ in phải giống nhau.

 

Các phần tử kiểm tra sự cân bằng xám

Hầu hết các thang kiểm tra đều chứa một hay nhiều ô màu xám được tạo thành do sự in chồng ba màu mực cơ bản. Trong điều kiện lý tưởng, các ô này phải có màu xám trung tính, tuy nhiên vì trong quá trình in có nhiều yếu tố biến đổi làm cho các lớp mực in chồng lên nhau không đều, kết quả là ô xám trung tính này ngả sang một tông màu nào đó và thông

thường ta có thể thấy bằng mắt thường. Để tiện cho việc quan sát người ta thường bố trí các ô kiểm tra sự cân bằng xám kế bên các ô có in màu đen với mật độ tương ứng, chúng thường có giá trị mật độ là 25%, 50% và 75%.

 

Các ô kiểm tra chồng màu chính xác

Hầu hết các thang kiểm tra in đều có các dấu kiểm tra gồm những đường rất mảnh đặt tại phần cuối mỗi dải kiểm tra. Một số thang kiểm tra có các dấu kiểm tra độ chính xác khi in chồng màu tại các khoảng đều nhau dọc theo thang kiểm tra. Tất cả các ô kiểm tra này phải nằm trong một khu vực giới hạn trên tờ in vì nhiều khi hình ảnh trên tờ in đã được chồng

màu chính xác rồi nhưng các thang kiểm tra vẫn chưa chồng khít lên nhau vì chúng nằm tại vị trí mép đuôi tờ giấy hay tại nơi tờ in bị kéo giãn (dạt giấy). Thông thường người ta bố trí bốn ô kiểm tra chồng màu chính xác tại bốn góc của tờ in vì đây là nơi mà tờ in dễ bị kéo giãn nhất, dĩ nhiên là việc bố trí như thế không mang lại sự chính xác hoàn toàn trừ khi ta bố trí các ô kiểm tra nằm liên tục dọc theo cạnh đầu và cạnh đuôi của tờ in.

 

Các ô kiểm soát sự truyền tông

Mặc dù việc đo diện tích các điểm tram (được tính toán từ các phép đo mật độ) đã được phổ biến rộng rãi và là cách hiệu quả để xác định và kiểm soát sự gia tăng tầng thứ nhưng vẫn có một số hình ảnh được thiết kế để nhạy một cách đặc biệt với sự truyền tông. Một số ảnh kiểm tra cung cấp kèm theo các giá trị nhưng cũng có những ảnh chủ yếu dùng để xác định sự gia tăng tầng thứ bằng mắt thường.

 

Các đường cực mảnh

Các đường cực mảnh thường được bố trí trên các thang kiểm tra bản được sản xuất bởi Hiệp hội Nghiên cứu phát triển công nghiệp in của Thụy Sĩ (UGRA). Họ đã tạo ra các được cực mảnh với các độ dày khác nhau dưới dạng âm bản và dương bản. Các đường này được thiết kế để nhạy cảm một cách đặc biệt với sự thay đổi của việc truyền tông. Nếu các đường cực mảnh dương bản biến mất hay không được phục chế, việc truyền tông ảnh bị giảm đi, nếu các đường âm bản bị lấp, việc truyền tông ảnh tăng lên.

Dạng kiểm tra này rất hữu ích để thiết lập việc truyền hình ảnh chính xác khi phơi bản, sao chụp phim và in thử bằng phương pháp quang hoá, nhưng nó bị giới hạn trong quá trình in sản lượng vì nó chỉ thể hiện được các giá trị thấp nhất và cao nhất trong toàn bộ khoảng mật độ. Các quá trình in thử không tạo ra các vấn đề nghiêm trọng khi sử dụng thang kiểm tra này vì các khoảng mật độ còn lại có thể tiên đoán được. Việc truyền mực từ bản in xuống cao su và xuống giấy in khó có thể tiên đoán được và yêu cầu phải đo nhiều vùng hơn trên khoảng mật độ. Các vùng tông trung gian là các vùng được nhìn rõ nhất trong dải tông độ và chúng ta phải đo các giá trị này. Mặc dù các ô kiểm tra có các đường cực mảnh cũng thường xuất hiện ở các thang kiểm tra in nhưng chúng được dùng chủ yếu để kiểm soát quá trình làm bản in.

 

Các điểm tram ở phần sáng và phần tối

Các điểm tram ở phần sáng và phần tối thực hiện chức năng tương tự như các đường cực mảnh và chủ yếu được dùng để kiểm tra quá trình truyền hình ảnh qua quá trình quang hóa Thang kiểm tra bản UGRA là một thí dụ điển hình. Chúng bao gồm các ô kiểm tra phần sáng có giá trị tông từ 1% đến 5% và các ô kiểm tra phần tối có giá trị từ 95% đến 99%, mỗi nấc tăng 1%. Các ô kiểm tra này có cùng giới hạn như các ô kiểm tra có các nét cực mảnh và cũng được dùng chủ yếu để kiểm tra quá trình làm phim và phơi bản, tuy nhiên nó cung cấp các thông tin rất hữu ích cho bộ phận chế bản qua việc cung cấp các giá trị tông lớn nhất và nhỏ nhất có thể phục chế được.

 

Các ô kiểm tra hình sao (các ô kiểm tra với các nét có độ dày thay đổi)

Các ô kiểm tra hình sao của hiệp hội kỹ thuật in (GAFT) là một trong những thang kiểm tra đầu tiên được thiết kế để kiểm soát việc truyền tông và chúng được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp in. Thang kiểm tra bao gồm các đường xuất phát từ tâm một vòng tròn và có độ dày thay đổi từ tâm ra phía ngoài (càng cách xa tâm các đường có độ dày lớn hơn). Trong một số lĩnh vực cụ thể, nó cũng giống như ô kiểm tra có các đường cực mảnh nhưng độ dày của chúng biến đổi liên tục và không mảnh như vậy, thang kiểm tra hình sao cung cấp nhiều thông tin hơn để kiểm soát quá trình in.

Khi dùng để kiểm tra quá trình làm phim hay làm bản in, nó cũng đóng vai trò như các ô kiểm tra có các đường cực mảnh. Các đường ở tâm của ô kiểm tra có độ mảnh cao nhất và chúng dường như xuất phát từ một tâm điểm có màu trắng. Kích thước của tâm điểm tắng này được quyết định bởi lượng hình ảnh bị mất đi trong quá trình làm bản in, trái lại hình ảnh bị lớn hơn sẽ làm cho các đường mảnh nhất ở tâm dính vào nhau và tạo ra một vòng tròn nhỏ màu đen ở tâm, kích thước của vòng tròn màu đen này xác định độ gia tăng của hình ảnh.

 

Thang kiểm tra hình sao của Gaft khi được phóng ta cho thấy hình ảnh ở các trạng thái: bình thường, bị lớn lên và bị thu nhỏ

 

Các ô kiểm tra có diện tích điểm tram biến đổi Các ô kiểm tra loại này được thiết kế để lượng hoá độ gia tăng kích thước của hình ảnh bằng cách ước lượng sự thay đổi của cá điểm tram có kích thước biến đổi. Một trong những loại than kiểm tra này là thang kiểm tra sự gia tăng tầng thứ ở phần tông trung gian của GAFT.

 

Trong quá trình in, các điểm tram khi tăng kích thước sẽ nối liền khoảng hở giữa các góc cạnh của các hạt tram và nối liền các đường chéo góc. Ta có thể thấy trên hình vẽ, các ô kiểm tra được thiết kế theo kiểu ô kiểm tra nào được đánh số lớn hơn sẽ có kích thước điểm tram nhỏ hơn. Vì lẽ đó, sự gia tăng kích thước của điểm tram có thể được lượng hoá bằng cách xác định vị trí mà các hạt tram được nối liền nhau. Trên hình vẽ ví dụ, ta thấy hạt tram tại các ô kiểm tra được đánh số 1, 2, 5, 10 đều đã bị nối liền nhau trong khi các hạt tram của ô kiểm tra được đánh số 15 chưa bị nối liền, dựa vào hình vẽ ta có thể suy ra sự gia tăng tầng thứ là 10%.

Con số này được xem như xấp xỉ sự gia tăng cơ học kích thước điểm tram chứ không phải sự gia tăng tầng thứ vật lý khi đo bằng máy đo mật độ  (cần phải lưu ý rằng trong quá trình đo mật độ do các yếu tố vật lý như sự tán xạ và hấp thụ của giấy sẽ làm cho máy đo cảm nhận sự hấp thụ ánh sáng nhiều hơn so với thực tế và dẫn đến các số liệu hiển thị mật độ gia tăng cao hơn). Nếu số liệu đo được không tương ứng với sự gia tăng trong thực tế thì ta phải sử dụng các phần tử kiểm tra có cùng độ phân giải tram với hình ảnh trên tờ in. Các thang loại này có kích thước rất nhỏ và hữu ích cho những công việc in có diện tích chừa trắng cho các thang kiểm tra nhỏ. Tuy nhiên khi sử dụng, trong thực tế, các kỹ thut viên nhận thấy rằng rất khó xác định vị trí nào trên thang kiểm tra có các điểm tram bị nối liền nhau vì kích thước của chúng quá nhỏ.

 

Các ô kiểm tra có các giá trị tầng thứ được tạo bởi tram có độ phân giải cao và tram có độ phân giải thấp

Thực tế cho thấy rằng, việc truyền tông thay đổi đáng kể khi sử dụng các độ phân giải tram khác nhau trên cùng một tờ in. Các hình ảnh được in bằng tram có độ phân giải cao cho thấy có sự gia tăng tầng thứ cao hơn so với các hình ảnh có độ phân giải thấp có cùng tông. Như vậy hình ảnh được tạo ra từ các loại tram có độ phân giải thấp sẽ cho các giá trị mật độ

ổn định hơn hình ảnh được tạo ra từ các loại tram có mật độ thấp, từ đặc điểm này người ta đã thiết kế các thang kiểm tra trên cơ sở tham chiếu qua lại giữa các ô kiểm tra.

Nếu sự gia tăng tầng thứ trong quá trình in hay giữa quá trình in thử và in thật khác nhau, độ tương phản giữa các ô kiểm tra có các tông được tạo ra từ tram thô và tram mịn sẽ cho phép kiểm tra sự gia tăng tầng thứ giữa các tờ in với nhau. Một số nhà sản xuất cung cấp các dải kiểm tra có các ô kiểm tra với tầng thứ khác nhau được tạo ra bởi các độ phân giải khác nhau. Nếu quá trình in diễn ra bình thường thì các ô này không có sự khác biệt nhưng nếu sự gia tăng tầng thứ quá mức cho phép xảy ra thì tuỳ theo mức độ mà các ô kiểm tra sẽ chỉ ra sự tương phản giữa các ô tram thô và tram mịn, sự khác biệt này có thể được quan sát bằng mắt thường.

Một trong những ô kiểm tra thông dụng dạng này là thang kiểm ra sự gia tăng tầng thứ của GAFT. Có 10 mức độ khác nhau về diện tích điểm tram có độ phân giải cao được đánh số từ 0 đến 9. Các ô kiểm tra này cũng chính là các con số được làm từ tram có độ phân giải cao nhưng có diện tích điểm tram khác nhau, bao bên ngoài các con số này là một dải tông ộ đều nhau được làm bằng tram có độ phân giải thấp. Trong quá trình in, tuỳ thuộc vào sự gia tăng tầng thứ ở mức độ nào mà con số biểu thị mức độ đó sẽ tương phản hẳn so với nền tram thô bao quanh nó, người ta có thể phát hiện bằng mắt thường. Thang kiểm tra này có thể dùng để kiểm ta quá trình in sản lượng cũng như quá trình in thử.

 

Các ô kiểm tra dùng để đo mật độ

Các yếu tố cân nhắc chính cho các phần tử được đo là số lượng các ô tầng thứ và giá trị tông của chúng. Do không có nhiều diện tích dành cho thang kiểm tra nên ta không cần phải đặt toàn bộ các giá trị tông vào thang kiểm tra mà chỉ cần đặt vào ba giá trị tông cơ bản, một số thang kiểm tra chỉ gồm một hoặc hai ô tầng thứ.

Các giá trị tông khác được dùng khi yêu cầu có thêm nhiều thông tin, thí dụ như khi so sánh tờ in thử và tờ in thật. Khi chỉ có mật độ tông nguyên và một giá trị tông khác nữa được đo, giá trị tông đó nên là các tông trung gian (40% hoặc 50%) chứ không nên dùng các tông ở phần tối. Trên các máy đo kiểm tra tự động gắn liền với máy in có chế độ tự động điều chỉnh

lượng mực cung cấp cần phải có các ô kiểm tra có giá trị tông khoảng 70% đến 75%.

Các ô tầng thứ trên các tang đo thường được làm với độ phân giải tram 60 đường/cm. Nhiều công việc in chất lượng cao hiện nay được in với độ phân giải cao hơn, điều này có nghĩa là sự thay đổi trên hình ảnh được in sẽ lớn hơn sự thay đổi trên thang kiểm tra.

 

Các phần tử kiểm tra kéo dịch và đúp nét.

Sự gia tăng tầng thứ là yếu tố không thể tránh khỏi trong quá trình in và ta phải kiểm soát sự gia tăng đó ở một giới hạn nhất định. Sự gia tăng tầng thứ bao gồm hai thành phần quan trọng khác nhau. Sự gia tăng tầng thứ xảy ra chủ yếu ở các rìa xung quanh điểm tram hoặc nó bị biến đổi theo một hướng. Sự biến đổi tầng thứ theo một hướng xảy ra khi có sự kéo

dịch hay đúp nét và được xem lỗi gây ra trong quá trình in vì nó chính là nguyên nhân gây nên sự không ổn định và không thể dự báo về các hậu quả do nó gây ra.

Các phần tử kiểm soát trước đây chủ yếu dùng để theo dõi sự truyền tông, nó cho biết có sự kéo dịch nhưng không có khả năng tách sự kéo dịch ra khỏi sự gia tăng diện tích điểm tram thông thường. Các ô kiểm tra kéo dịch và đúp nét được dùng để chỉ ra sự khác biệt này. Không giống như các điểm, các đường có hướng và vì cả kéo dịch và đúp nét đều là những hiệu ứng có hướng nên chúng có khả năng phát hiện sự biến đổi theo hướng này.

 

Các ô kiểm tra hình sao

Các ô kiểm tra hình sao chỉ ra sự thay đổi độ lớn của hình ảnh thông qua kích thước của vòng tròn trung tâm, do được tạo thành từ các đường có các hướng khác nhau nên nó cũng có khả năng chỉ ra sự thay đổi theo các hướng. Nếu hiện tượng kéo dịch xảy ra, vòng tròn ở tâm sẽ biến thành hình elip và hướng của đường kính nhỏ hơn của hình elip chỉ ra hướng kéo dịch. Nếu hiện tượng đúp nét xảy ra thì vòng tròn ở tâm của ô kiểm tra hình sao sẽ có hình số 8 và trục ngắn của hình này sẽ chỉ ra hướng đúp nét của hình ảnh. Mặc dù các ô kiểm tra này có thể cho thấy hiện tượng kéo dịch hay đúp nét nhưng chúng không cho phép lượng hoá mức độ kéo dịch hay đúp nét.

 

Hình trên đây miêu tả các ảnh hưởng của kéo dịch và đúp nét trên các thang kiểm tra khác nhau

 

Các ô kiểm tra gồm các vòng tròn đồng tâm

Cũng giống như ô kiểm tra hình sao, ô kiểm tra gồm các vòng tròn đồng tâm cũng được dùng để phát hiện ra sự đúp nét hay kéo dịch và cũng có khả năng phân biệt được hai hiện tượng này. Ô kiểm tra này gồm các vòng tròn đồng tâm có các đường kính khác nhau, độ dày của các viền đường tròn và các khoảng hở trắng giữa chúng bằng nhau để có độ phủ mực trên ô kiểm tra là 50%. Khi hiện tượng kéo dịch xảy ra, các cung của vòng tròn theo hướng 90° sẽ đậm hơn trong khi đúp nét lại tạo ra các cung nhỏ hơn.

 

Các ô kiểm tra gồm các đường mảnh

Các đường mảnh và nhỏ là một trong những dạng thức thông dụng nhất dùng để kiểm tra sự kéo dịch và đúp nét. Nguyên lý kiểm tra như sau: nếu sự kéo dịch xảy ra theo hướng nào thì các đường kiểm tra sẽ có độ dày lớn hơn theo hướng đó trong khi các đường kiểm tra theo hướng khác vẫn giữ nguyên không đổi. Tuy nhiên các thang kiểm tra này có thể phân biệt được sự kéo dịch và đúp nét mà không phải quan sát bằng kính lúp do sự biến đổi rất rõ của chúng nhưng lại có nhược điểm là không lượng hoá được mức độ biến đổi.

Các thang kiểm tra gồm các đường mảnh

 

Các phép đo kiểm tra trong quá trình in

Đo diện tích điểm tram

Để có thể đo được diện tích điểm tram ta cần phải có một vùng tông nguyên nằm kế một vùng nửa tông. Phép đo diện tích điểm tram được thực hiện trên vùng tông nguyên và vùng nửa tông và các giá trị này được dùng để tính diện tích điểm tram. Sự tính toán dựa trên giả thuyết là nếu vùng tông nguyên hấp thụ một phần ánh sáng chiếu tới và vùng có tầng thứ cũng chỉ hấp thụ một phần ánh sáng chiếu tới tuỳ thuộc vào diện tích điểm tram.

Nếu sự hấp thụ ánh sáng của vùng tông nguyên là 0.9 và vùng nửa tông là 0.45 thì diện tích điểm tram sẽ là:

Ở đây, ta thấy vùng nửa tông hấp thụ một nửa lượng sáng chiếu tới so với vùng tông nguyên.

Chúng ta biết rằng máy đo mật độ đo lượng sáng hấp thụ và cảm nhận về ánh sáng hay âm thanh của con người không tuyến tính mà nó chịu ảnh hưởngcủa hàm số logarit vì thế sự hấp thụ tương đương với 1-10-D (với D là mật độ). Phương trình tính diện tích điểm tram trở thành:

Với: TV : Diện tích điểm tram(%)

Ds : mật độ đo được tại ô tông nguyên

Dt : mật độ đo được tại ô nửa tông

 

Phương trình Murray-Davies

Phương trình nêu trên là phương trình Murray-Davie và hầu hết các máy đo mật độ ngày nay đều sử dụng phương trình này để tính toán diện tích điểm tram. Chúng ta cần thận trọng khi sử dụng công thức này vì giá trị tram đo được không phải là giá trị đo trên cơ sở độ che diện tích hình học của các hạt tram (là cách tính diện tích điểm tram dựa trên cơ sở tính toán độ che diện tích của điểm tram trong một khu vực rồi so sánh nó với phần không bị che để suy ra tỉ lệ diện tích che phủ). Trong thực tế, vì bản thân giấy tán xạ ánh sáng ngay bên trong nó nên xảy ra trường hợp một lượng ánh sáng đáng lẽ phải phản xạ khi được chiếu tới phần trắng xung quanh của điểm tram thì lại tán xạ và trồi lên từ phần giấy nằm ngay bên dưới hạt tram nên bị suy yếu đi.

Lượng sáng bị giữ lại ngay bên dưới tờ in làm ảnh hưởng đến phép đo.

Việc ánh sáng bị giữ lại một phần bên trong tờ in sẽ làm lượng ánh sáng phản xạ ít đi và do vậy làm cho giá trị mật độ đo được cao hơn, đôi khi người ta gọi đây là hiện tượng gia tăng tầng thứ thị giác.

 

Phương trình Yule-Nielsen

Để khắc phục các khiếm khuyết của phương trình Murray-Davies, Yule và Nielsen đã đưa ra phương trình sau:

Với: n là hệ số bù cho sự gia tăng mật độ

 

Hệ số n phụ thuộc vào loại giấy và độ phân giải tram. Nó cũng được điều chỉnh tùy theo giá trị tầng thứ nhưng điều này thường không thực tế. Bằng cách lựa chọn giá trị thích hợp cho hệ số n ta có thể điều chỉnh phương trình Yule-Nielsen gần với thực tế hơn.

Nếu phép đo diện tích điểm tram chỉ dùng cho mục đích so sánh giá trị mật độ giữa tờ in thử và tờ in thật và giữa các tờ in với nhau thì việc sử dụng phương trình Murray-Davies hay phương trình Yule-Nielsen đều có thể chấp nhận được. Trong thực tế, việc chọn lựa hệ số n cho phù hợp là một việc phức tạp và để đơn giản hoá việc này người ta đã lựa chọn nó dựa trên ba loại giấy như bảng sau

 

Loại giấy

Hệ số n

Giấy tráng phấn

1.65

Giấy không tráng phấn loại thường

2.70

Giấy không tráng phấn loại tốt

2.60

 

Sự gia tăng tầng thứ

Phép đo sự gia tăng tầng thứ là một phép đo đơn giản dựa vào giá trị tram đo được trên phim và giá trị tram tương ứng đo được trên tờ in. Lấy giá trị tram trên tờ in trừ đi giá trị tram trên phim sẽ có giá trị gia tăng tầng thứ tương ứng với từng giá trị diện tích tram

 

Độ tương phản in

Độ tương phản in là độ tương phản ở vùng tối, nơi mà đến một mức độ nào đó người quan sát có thể phân biệt được các tông được in ở vùng tối. Độ tương phản in được tính toán bằng cách so sánh giá trị mật độ đo được ở tông 3/4 (thông thường là 70 hoặc 75%) và ô tông nguyên theo công thức sau:

Với: Ds : Mật độ ô tông nguyên (kể cả mật độ giấy)

Dt: Mật độ của tông 3/4 (kể cả mật độ của giấy)

%PC: Độ tương phản in tính bằng phần trăm

 

Các nghiên cứu của Ủy ban Nghiên cứu in GCA đã đề nghị rằng khi in trên giấy tráng phấn sử dụng tiến trình in offset cuộn có bộ phận sấy, giá trị độ tương phản in đạt được là 25% hoặc cao hơn có nghĩa là tương ứng với việc người quan sát cảm nhận tờ in tốt. Vì thế tương phản in là một thuộc tính in có ích cần phải đo vì:

• Người thợ in và người thợ tách màu cho rằng nó hữu ích vì nó cung cấp một chỉ số của việc phục chế ảnh tại một điểm quan trọng của đường cong phục chế tông.

• Người thợ in - dù cho họ có sử dụng thanh kiểm tra để tính toán độ tương phản hay không - cũng vận hành máy in bằng cách cho nhiều mực có thể được vào vùng tông nguyên trong khi vẫn giữ cho các ô tram trong phần tối không bị bít. Hoạt động này chủ yếu được kiểm soát bằng cách điều chỉnh cân bằng mực nước và có thể được đo và mô tả bằng độ tương phản in.

• Người đặt hàng in - dù cho họ có nhận thức rằng họ đang dùng phương pháp nhìn để ước lượng độ tương phản in - Sử dụng độ tương phản in để quyết định chất lượng in. Tờ in với độ tương phản in cao thì thường nhìn bắt mắt hơn vì các vùng tối đậm đà và có chiều sâu trong khi các vùng trung gian và vùng tông 3/4 vẫn thể hiện đủ vai trò của nó tạo cho hình ảnh có cảm giác 3 chiều “thoát” ra khỏi tờ giấy. Trái lại tờ in có độ tương phản thấp thường được mô tả là mù mờ hay bị phai màu Số liệu về độ tương phản in tự bản thân nó cung cấp một thông tin rõ ràng về tiến trình in như :

• (1) Mật độ của lớp mực.

• (2) Sự gia tăng tầng thứ trong vùng tông 3/4

• (3) Khả năng gia tăng độ dày lớp mực trong khi vẫn không làm tăng các giá trị tầng thứ ở các vùng tông trung gian. Lấy thí dụ, nếu độ tương phản in tăng có nghĩa là mật độ tông nguyên tăng nhưng không làm tăng mật độ của vùng tông 3/4. Trái lại việc độ tương phản in giảm có nghĩa là mật độ tông nguyên tăng nhưng các ô trung gian ở tông 3/4 bị bít, làm hình ảnh được phục chế không có chiều sâu và làm giảm độ tương phản thấy được giữa các vùng tông nguyên và tông 3/4.

Lưu ý rằng độ tương phản in không mô tả một mối quan hệ tuyệt đối với tất cả các hình ảnh. Thay vào đó độ tương phản in cho thấy phía trong một tờ in tốt trên cơ sở kinh nghiệm phục chế. Thí dụ, một hình ảnh có độ tương phản cao hay thấp (thí dụ một con gấu bắc cực đứng trên tuyết) sẽ vẫn xuất hiện với độ tương phản tối thiểu bất kể đến độ tương phản in

là bao nhiêu.

Độ tương phản in hay độ tương phản phần tối của tờ in là một thuộc tính quan trọng để đánh giá chất lượng in vì nó nhạy với hầu hết các thay đổi trong quá trình in. Độ tương phản in cũng thường được đo để đánh giá:

• Áp lực giữa cao su và tờ in

• Sự làm ẩm và các phụ gia làm ẩm

• Mực in

• Đường cong tương phản in đặc trưng

 

Kéo dịch và đúp nét

Phương trình dùng để tính diện tích điểm tram qua phép đo mật độ tầng thứ của hình ảnh có thể áp dụng cho bất kỳ loại tầng thứ nào. Nếu đo vùng phủ mực được tạo bởi các đường tầng thứ ta có thể định lượng sự kéo dịch hay đúp nét. Để có thể thực hiện phép đo kiểm tra ta có thể bố trí hai ô tầng thứ 50% nằm kế nhau, một ô có góc tram 0° và một ô có góc xoay tram 90°.

Trong quá trình in ta tiến hành đo độ phủ mực của từng ô và trừ chúng cho nhau. Độ khác biệt chính là sự gia tăng tầng thứ có thể góp phần làm hình ảnh bị kéo dịch hay đúp nét. Kiểu đo và tính này thường không có sẵn trên các máy đo mật độ tự động mà phải thực hiện thủ công.

 

Đường cong đặc trưng của sự gia tăng tầng thứ

Việc đo diện tích điểm tram được thực hiện trên các thang kiểm tra thường chỉ được thực hiện qua một hoặc hai ô tầng thứ có sẵn trên thang, nhưng để đo và tính toán sự gia tăng tầng thứ cần phải có một thang kiểm tra có đủ các tông được in kèm theo hình ảnh. Thang kiểm tra bản UGRA là thang thích hợp nhất cho công việc này. Diện tích điểm tram phải được đo trên từng nấc thang kiểm tra. Để hỗ trợ cho quá trình tính toán, các giá trị đo này được đánh dấu trên trục toạ độ biểu thị mối quan hệ giữa diện tích điểm tram trên phim và diện tích điểm tram trên tờ in, đường nối liền giữa các giá trị được đánh dấu trên đồ thị được gọi là đường cong đặc trưng của sự gia tăng tầng thứ.

Đường cong đặc trưng của sự gia tăng tầng thứ khi in với bản dương

 

Đường thẳng góc 45° biểu diễn mối quan hệ tuyến tính (lý tưởng) giữa phim và tờ in. Do vậy sự gia tăng tầng thứ còn được xem là độ lệch của đường đặc trưng so với đường thẳng góc 45°. Ngoài ra còn có một cách khác để biểu diễn mối quan hệ này là đánh dấu giá trị tram đo được từ các nấc của kiểm tra trên tờ in tương ứng với các giá trị tram trên phim.

 

Đường cong đặc trưng của sự gia tăng tầng thứ khi in với bản dương

 

 

Các phép đo sự truyền mực

Các phép đo sự truyền mực dùng để định lượng sự truyền một lớp mực này lên trên một lớp mực đã được in trước đó. Đây cũng chính là một trong những phép đo đơn giản có thể thực hiện bằng máy đo mật độ. Có nhiều công thức dùng để tính sự truyền mực nhưng công thức dưới đây là thông dụng nhất.

Với: D1+2 : mật độ của hai lớp mực in chồng lên nhau

D1 : mật độ của lớp mực in đầu tiên

D2 : mật độ của lớp mực in thứ hai.

 

Đo mật độ để tính toán sự truyền mực

 

Tất cả các mật độ được đo bằng kính lọc dành cho màu in sau cùng. Ở hình vẽ trên, sự  truyền mực được tính như sau:

Độ truyền mực hiếm khi đạt được 100% mà thường nằm trong khoảng 70% đến 90%. Độ truyền mực càng cao thì sự truyền mực càng tốt.

Để tính độ truyền mực khi in ba màu ta có công thức sau:

Với: D1+2+3 : mật độ của ba lớp mực in chồng lên nhau

.......D1+2 : mật độ của 2 lớp mực in đầu tiên

.......D3 : mật độ của lớp mực in thứ ba.

Tất cả các mật độ được đo bằng kính lọc dành cho màu in sau cùng (màu thứ ba)

Phương trình này không cung cấp một phép đo chính xác cho sự truyền mực trong thực tế vì nó được giả định rằng có áp dụng những qui định bổ sung. Qui định này cho rằng mật độ của các màu mực in phối trộn với nhau được đo qua một kính lọc bằng với tổng mật độ của các mực in thành phần được đo qua các kính lọc dành cho riêng nó. Trong thực tế, qui định này không đúng vì các yếu tố sau:

• Có sự khác biệt giữa việc truyền mực lên bề mặt giấy chưa in và bề

mặt giấy đã in

• Mực in không trong suốt hoàn toàn

• Có sự phản xạ và tán xạ ánh sáng bên trong tờ in

• Sự phản xạ phổ của các máy đo mật độ

 

Đo độ lệch tông màu và độ ngả xám

Việc tính toán độ lệch tông màu và độ ngả xám là chức năng thông thường có sẵn trong các máy đo mật độ hiện nay. Cả độ lệch tông màu và độ ngả xám đều liên hệ đến màu của mực in, vì chúng ta không thể đo màu trực tiếp bằng máy đo mật độ nên chúng ta có thể đo gián tiếp thông qua các thông số khác. Các phép đo độ lệch tông màu và độ ngả xám rất hữu dụng khi chúng ta so sánh độ ổn định về mặt tông màu của các hộp mực trong cùng một lô hàng hay kiểm tra tình trạng nhiễm bẩn của các mực in đang sử dụng.

Theo lý thuyết, mực in nên hấp thụ 1/3 dải quang phổ ánh sáng và phản xạ 2/3 dải quang phổ còn lại. Máy đo mật độ có thể đo sự hấp thụ các màu Red, Green, Blue của các màu cơ bản Cyan, Magenta và vàng thông qua tất cả các kính lọc. Nếu đặc tính phổ của mực in và kính lọc đạt đến độ lý tưởng như lý thuyết thì đồ thị phản xạ phổ của ba màu mực in cơ bản có dạng như hình dưới đây.

 

Vì mực in và kính lọc lý tưởng không tồn tại trên thực tế nên chúng luôn có sự chênh lệch so với hình vẽ trên. Ta có thể lượng hoá được độ lệch tông màu và độ ngả xám bằng cách đo những hấp thụ phổ không mong đợi của các màu (mật độ).

 

Độ lệch tông

Để đo độ lệch tông màu, mẫu trên tờ in phải được đo qua cả ba kính lọc và áp dụng công thức sau:

Với:

Dmin : giá trị mật độ thấp nhất

Dmed : giá trị mật độ trung bình

Dmin : giá trị mật độ cao nhất

Hình vẽ dưới đây mô tả các phép đo được tiến hành từ mẫu đo là màu Magenta

 

Từ ví dụ này, độ lệch tông của màu Magenta là:

Độ lệch tông màu là 42% nhưng chúng ta cũng cần phải cân nhắc khuynh hướng lệch tông màu. Hướng lệch tông màu được quyết định bởi kính lọc cho mật độ thấp nhất, trong trường hợp này hướng lệch tông chính là màu Red. Nếu một máy đo mật độ được lập trình để tính độ lệch tông, nó sẽ hiển thị độ lệch tông cùng với hướng lệch tông, nếu chúng ta đo độ lệch tông của các vùng được in chồng (Red, Green và Blue) từ hai màu mực in cơ bản thì giá trị độ lệch thu được rất cao. Giá trị lý tưởng trong trường hợp này là 100%, nhưng thậm chí nếu sự truyền mực được cho là hoàn hảo thì giá trị lý tưởng này cũng sẽ không đạt được do những lý do kể trên.

 

Độ ngả xám

Từ các giá trị đo để tính độ lệch tông ta có thể dùng để tính độ ngả xám.  Chúng ta thấy rằng độ lệch tông có liên quan đến sự khác biệt giữa giá trị mật độ thấp nhất và giá trị mật độ trung bình. Nếu các loại mực có độ lệch tông màu bằng không thì cũng chưa thể xem các loại mực đó là lý tưởng. Nếu mật độ đo được qua các kính lọc đều cho thấy có sự hấp thụ, nghĩa là có tồn tại một lượng màu xám nhất định trong mực in và mật độ thu được qua kính lọc. Mật độ thấp nhất đo được qua kính lọc quyết định đến độ ngả xám của một màu. Ta có công thức tính độ ngả xám như sau:

Sử dụng ví dụ như hình trên ta có độ ngả xám là:

 

Biểu đồ màu lục giác của GAFT

Thông thường chúng ta sẽ sẽ sử dụng các giá trị độ lệch tông màu và độ ngả xám để so sánh các loại mực in. Nhưng chúng ta cũng có thể sử dụng các phép đo từ biểu đồ cấu trúc màu để so sánh khoảng phục chế màu của hai tờ in hay giữa tờ in thử và tờ in thật. Biểu đồ này cũng có nhiều điểm giống như biểu đồ màu CIELAB, nó có dạng hình lục giác và cho phép biểu diễn sự khác biệt về độ bão hoà màu và độ lệch tông màu. Ta cần phải có một tờ giấy mẫu để vẽ biểu đồ lục giác và quá trình vẽ tương đối đơn giản và cũng không cần thiết phải tính toán gì cả. Nó được xem là biểu đồ hữu ích nhất.

Để đánh dấu lên biểu đồ này, chúng ta cần phải có các giá trị đo mật độ qua các kính lọc Red, Green và Blue của các màu cần đánh dấu. Lấy ví dụ màu Magenta của các ví dụ trước, các giá trị mật độ của nó được đo qua các kính lọc là: Red=0.20 Green=1.30 và Blue=0.66,66. Điểm xuất phát của tất cả các màu luôn là tâm của hình lục giác đại diện cho giá trị từ trắng đến đen. Đầu tiên sử dụng mật độ của kính lọc Red, ta di chuyển ra phía ngoài, hướng đến phía đối diện của Red là Cyan đến một giá trị mật độ là 0.20. Tại điểm này, ta di chuyển về phía đối diện của màu Green là màu Magenta một khoảng tương ứng với giá trị mật độ của kính lọc Green là 1,30, từ đây ta lại tiếp tục di chuyển hướng về phía đối diện của màu Blue là vàng một khoảng tương ứng với giá trị mật độ của kính lọc Blue là 0,66. Đây là điểm mà ta đánh dấu cho màu mực in Magenta. Màu lý tưởng là màu được đánh dấu đúng ngay trên trục của nó trên hình lục giác. Khoảng cách của điểm được đánh dấu so với tâm của hình lục giác cho biết độ bão hoà màu.

 

Vẽ khoảng phục chế màu trên biểu đồ lục giác của Gaft

cũng cần phải lưu ý rằng vị trí tương đối của các màu trên biểu đồ màu lục giác không tương ứng với độ khác biệt màu được cảm nhận bằng thị giác. Dù sao đi nữa biểu đồ lục giác này cũng cho phép dùng các máy đo mật độ để đo khoảng không gian màu phục chế khi không có các thiết bị đo màu mắc tiền.

Dùng biểu đồ màu lục giác để xác định khoảng màu phục chế khi in trên giấy tráng phấn và giấy in báo.

 

Độ tương phản màu

Độ tương phản màu là thuộc tính của các màu mực cơ bản. Nó được tính thông qua các phép đo mật độ. Công thức này cũng có thể dùng để so sánh các đặc tính tương đối của các màu mực in hay là cơ sở để quyết định độ dày lớp mực tối ưu của một loại mực.

Trong hầu hết các quá trình in màu, chúng ta đều cố gắng in sao cho khoảng phục chế màu cao nhất trong khả năng cho phép của giấy in và mực in. Điều này có thể được thực hiện một phần qua việc in các màu với độ bão hoà màu cao nhất. Ở mật độ thấp, ta có thể quan sát độ bão hoà màu bị giảm đi do ta có thể nhìn thấy được nền giấy phía dưới lớp mực và khi độ dày lớp mực tăng lên thì độ bão hoà màu cũng tăng lên, nhưng không phải tăng liên tục. Đến một mức độ nào đó, việc hấp thụ màu không mong muốn sẽ làm giảm độ bão hoà màu và làm cho màu tối hơn. Điều này đúng cho màu Cyan và màu Magenta nhưng ảnh hưởng ít đến màu vàng vì hấp thụ màu không mong muốn của màu này thấp. Công thức tính độ tương phản màu như sau:

 

Với : Dmin : giá trị mật độ thấp nhất

Dmax : giá trị mật độ cao nhất.

 

Công thức này tương tự như công thức tính độ ngả xám, phép đo độ tương phản màu cũng bị ảnh hưởng bởi tính làm giảm độ bão hoà màu của nền giấy. Nếu công thức tính được áp dụng cho mẫu in có độ dày lớp mực tăng thì rõ ràng độ tương phản màu cũng tăng (có thể quan sát được). Độ tương phản màu nhỏ khi độ dày lớp mực thấp và tăng khi độ dày lớp mực tăng nhưng chỉ tăng đến một đỉnh điểm nào đó thì bắt đầu giảm xuống.

Sự thay đổi độ tương phản màu ứng với sự thay đổi độ dày lớp mực.

 

Đo cân bằng xám

Ô cân bằng xám trong thang kiểm tra là một ô cho phép kiểm tra bằng mắt thường nhưng cũng cung cấp thêm nhiều thông tin hữu ích cho quá trình kiểm soát với các phép đo được thực hiện với một máy đo mật độ. Giả sử rằng máy đo mật độ có thể đo với tất cả các kính lọc cùng một lúc. Nếu các ô kiểm tra cân bằng xám có màu xám trung tính thì máy đo mật độ sẽ nhận được các giá trị đo từ ba kính lọc đều nhau. Một sự chuyển dịch trong quá trình cấp mực hay sự gia tăng tầng thứ ở bất kỳ màu nào cũng đều tạo ra các kết quả thấy được và đo được trên các ô cân bằng xám. Giả sử tờ in ra không đạt được sự cân bằng hoàn hảo trên ô kiểm tra cân bằng xám và mật độ đo được qua các kính lọc sẽ không bằng nhau, trong trường hợp này ta có thể đo ô cân bằng xám của mẫu đo và xác lập nó bằng 0, khi đó các số đo trên các tờ in ra sẽ phản ánh rõ nét hơn độ lệch cân bằng xám. Phép đo như thế rất hữu ích vì nó cho thấy ảnh hưởng của sự truyền mực, sự gia tăng tầng thứ và việc cấp mực trên máy. Tuy nhiên việc sử dụng các giá trị đo được để chỉnh sửa sẽ không chính xác như chúng ta thấy trong hình vẽ dưới đây.

 

Các phép đo sự khác biệt mật độ được tiến hành trên các ô cân bằng xám đang mất ổn định vì sự biến đổi trong việc cấp mực này có thể liên quan đến các mực khác.

Chúng ta có thể thấy rằng cả hai màu mực in màu Cyan và Magenta đều hấp thụ ánh sáng của hai màu mà đáng lý ra nó không nên hấp thụ, một sự thay đổi trong việc cấp mực của một màu sẽ tạo ra sự thay đổi mật độ trên màu khác. Đây là một sự thay đổi thực tế mà chúng ta có thể quan sát bằng mắt thường, nhưng việc quyết định chỉnh sửa có một chút khó khăn và cách giải quyết tốt nhất vẫn là điều chỉnh việc cấp mực trên những màu nào đang tạo ra lỗi nhiều nhất.

 

Nguồn: Tài liệu Quản lý và kiểm tra chất lượng sản phẩm in Anh Khoa's Brother 

Chia sẻ

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

KIỂM ĐỊNH TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG BAO BÌ GIẤY

Trong quá trình chuyển đổi từ sản xuất in thương mại sang in bao bì giấy, các nhà in thường bỡ ngỡ với các yêu cầu không chỉ đơn thuần là chất lượng in nữa và bây giờ nó là chất lượng của bao bì. Vậy chất lượng bao bì giấy là gì? Làm sao kiểm định và quan trọng nhất là các nhà in phải thực hiện việc này ra sao?

CÁC ĐẶC TRƯNG KHI IN VÀ THUỘC TÍNH CỦA CHÚNG

Các đặc trưng in: Đối với chế bản, các đặc trưng in có thể được định nghĩa là “Các ảnh hưởngđược kết hợp của một số các đặc trưng cần phải được bù trừ khi tạo racác bản tách màu”. Các thuộc tính của các đặc trưng in: Trong quá trình chế bản, các đặc trưng in xác định sự cân chỉnh máy quét và thường được xác định theo các dữ liệu về mật độ tờ in và cân bằng xám. Đối với quá trình in, các đặc trưng in được định nghĩa là : “Tập hợp các đặc trưng có ảnh hưởng đến phục chế in và ảnh hưởng đến sự chính xác giữa tờ in thử và tờ in thật cũng như giữa các tờ in trong một lần in hay giữa nhiều lần tái bản”. Có nhiều yếu tố biến đổi gây ra sự khác biệt giữa tờ in thử và tờ in thật, giữa các tờ in trong một lần in và giữa các lần in. Các yếu tố này có thể được phân thành các thuộc tính cơ bản như sau:  •    Bề mặt tờ in•    Màu mực cơ bản (tông màu, mật độ)•    Sự truyền tông (gia tăng tầng thứ)•    Màu mực sơ cấp (sự nhận mực, thứ tự  in chồng màu)•    Cân bằng xám. Mặc dù các thuộc tính này được liệt kê như những thuộc tính riêng lẻ nhưng chúng không thể tách rời nhau mà trong thực tế chúng có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Tuy nhiên chúng ta cần phải đo các thuộc tính này một cách riêng biệt để có thể xem xét ảnh hưởng của chúng đến sự biến đổi tổng thể. 

LỰA CHỌN MỰC IN PHÙ HỢP

Cách lựa chọn mực in phù hợp với vật liệu: Yêu cầu về mục đích sử dụng. Công nghệ sử dụng ở in và sau in. Các chuẩn mực của các hệ thống kiểm tra. (ngành thực phẩm, mỹ phẩm...)

TỔNG QUAN VỀ GIẤY VÀ MÀNG BAO BÌ

Giấy in: Ưu điểm: Thỏa mãn rất nhiều tính chất công nghệ, tính chất tiêu dùng, tính kinh tế,... Mỏng, nhẹ nhưng bền, bề mặt lại tương đối phẳng và láng. Cấu trúc xốp của giấy làm cho nó có khả năng chịu được áp lực đồng thời mực in rất dễ bám lên. Độ trắng của giấy đảm bảo cho chất lượng tái tạo hình ảnh. Khả năng tái sinh tốt.

PHẦN 3: LỰA CHỌN LÔ ANILOX PHÙ HỢP TRONG QUÁ TRÌNH IN FLEXO

Quy định chung khi chọn lô anilox: Lựa chọn lô anilox là quá trình bắt buộc trong quá trình in flexo. Khi lựa chọn các loại lô anilox dùng trong in flexo một cách hiệu quả cần phải căn cứ vào một số yếu tố cơ bản sau: